loading...
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh Thường Gặp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh Thường Gặp. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 27 tháng 11, 2016

Đau lưng, những điều cần đặc biệt chú ý về bệnh đau lưng

Gặp gỡ với bác Trần Thị Đáy, một bệnh nhân đau lưng trong thời gian dài chúng tôi mới có dịp hiểu rõ hơn những khó khăn mà những người đau lưng phải gánh chịu:

bệnh đau lưng

Thưa cô, bây giờ những vấn đề khiến cô khó chịu nhất là gì ạ?

Hiện tại cô đang bị mỏi vùng vai gáy, đau cổ, đang lan xuống cánh tay đến tận đầu ngón tay làm cô khó chịu lắm. Nhiều lúc nó buốt trong xương, ngoáy đi ngoáy lại mà khó, cứng, nhiều khi phải quay cả người trong lúc nấu ăn rất khó khăn.

Cô có bao giờ bị mất ngủ không ạ?

Có cháu ạ, nó đau đớn lắm làm sao cô ngủ được. Nếu hôm nào trời lạnh phải giữ ấm, chứ tắm lạnh vào nằm là sáng ra cứng luôn.

Cháu nghĩ là những cơn đau như vậy đã ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt của cô?

Trong sinh hoạt hàng ngày, do đau đớn nên nhiều lúc mình hay cáu gắt!

Cô có biết là nếu để lâu sẽ dẫn đến những hậu quả gì không ạ?

Trên tivi họ cũng nói nhiều, bị thoái hóa đến lúc không đi được, nằm liệt thì chết.

Đau lưng là biểu hiện của nhiều bệnh lý khác nhau trong đó có thể do ảnh hưởng của thoái hóa cột sống, làm việc sai tư thế,… từ đó dẫn đến những chấn thương, cột sống bị chèn ép. Vậy làm thế nào để hiểu rõ hơn và tránh được những khó chịu do bệnh đau lưng gây nên chúng ta cùng tìm hiểu nội dung bên dưới:

Nguyên nhân nào khiến người ta bị mắc bệnh thoái hóa đốt sống lưng?


Nói về sự thoái hóa cột sống cũng như thoái hóa xương khớp nói chung, thì chúng ta phải nghĩ rằng nó là do quy luật tự nhiên. Thứ 2 là do những bệnh tật khác như phụ nữ mãn kinh, bệnh tiểu đường, bệnh loãng xương, những người lạm dụng corticoid hoặc buộc phải dùng corticoid lâu dài thì cũng gây nên loãng xương, yếu tố sinh hoạt không phù hợp với tư thế và sinh lý của cột sống. Bên cạnh đó, có những người mang dị tật bẩm sinh, tật đốt sống, tật gù, vẹo hoặc những chấn thương, phẫu thuật, khối u làm lệch vẹo cột sống ở tư thế không sinh lý và không phù hợp với giải phẫu tự nhiên của con người. Là những nguyên nhân chính, thúc đẩy đẩy nhanh quá trình thoái hóa cột sống.

đau lưng do loãng xương

Đau lưng là một biểu hiện dễ thấy nhất ở thoái hóa cột sống. Ngoài ra còn những triệu chứng khác như:


Triệu chứng cơ bản là đau. Nhưng ta có thể chia thành 3 thể chính:

Thứ nhấtđau lưng cấp, nghĩa là khi gặp trời lạnh, thời tiết không thuận lợi, do một tư thế lao động nào đó không phù hợp làm ta đau nhói. Về y học hiện đại người ta gọi đó là lồi đĩa đệm hoặc thoát vị đĩa đệm, đau kèm theo co cứng cơ lưng làm giảm và hạn chế vận động.

Thứ haiđau lưng mãn tính, thường xảy ra đau âm ỉ, đau thường xuyên, nếu gặp lạnh hoặc ẩm thấp thì ban đêm đau tăng lên nhiều, ban ngày đỡ hơn, chườm nóng thì dễ chịu, nhiều trường hợp đau cả ngày lẫn đêm, đau âm ỉ, lười hoặc rất ngại vận động.

Thứ ba với những người thoái hóa cột sống thắt lưng kèm theo hiện tượng đau xuống chân (còn gọi là đau thần kinh tọa). Trong đó những người đau thần kinh tọa hai bên phải rất cảnh giác vì đấy là một bệnh nặng, ví dụ như lao đốt sống, ung thư đốt sống hoặc bệnh nào đó nặng hơn,… lúc đấy cần sự tư vấn chính xác của bác sĩ.

Rất nhiều bạn trẻ hay kêu đau lưng sau một ngày làm việc, đặc biệt là vùng thắt lưng. Vậy bệnh đau lưng và thoái hóa cột sống đang có xu hướng trẻ hóa hay chỉ là triệu chứng thông thường khi phải làm việc quá vất vả?


Người ta còn gọi là hội chứng bệnh sinh viên, hội chứng bệnh thời đại. Tức là trong thời đại kinh tế trí thức, con người vận động theo tự nhiên ít dần, việc ngồi trước bàn giấy đặc biệt ngồi trước máy tính khá nhiều với tư thế cố định, lúc đấy quên mất rằng cột sống đang ở tư thế rất bất lợi. Chính vì thế, đã tạo nên những vi chấn thương tích lũy dần gây đau lưng, mỏi lưng, khó chịu, thậm chí là thoái hóa đốt sống cổ sớm hơn do tư thế lao động không tốt và các chế độ sinh hoạt không phù hợp.

Hướng điều trị cho người bị đau lưng


Ở bệnh nhân đau lưng, đau dọc theo mặt sau của chân, thoái hóa cột sống gây đau thần kinh tọa ở lưng… Lời khuyên đầu tiên là phải có chế độ sinh hoạt và tập luyện hợp lý, tránh những động tác gây san chấn nặng thêm.

Tiếp đó, cần sử dụng các loại thuốc điều trị bao gồm nhóm thuốc có tác dụng giảm đau giai đoạn giai đoạn cấp, thuốc hỗ trợ xương gồm canxi và vitamin D, thuốc làm mềm hệ thống cơ là những biện pháp cơ bản dành cho người bệnh.

Trong thời gian bệnh nhân đi lại có thể sử dụng thêm đai cột sống hỗ trợ trục cột sống thắt lưng để giảm bợt áp lực cơ thể trở xuống và giúp bệnh nhân đỡ đau.

Việc sử dụng phương pháp châm cứu và vật lý trị liệu cho người bị đau lưng


Với bệnh nhân ở giai đoạn đau cấp cần từ từ, chưa can thiệp các biện pháp bổ trợ vội kể cả trong vấn đề tập luyện. Vì nếu tập luyện quá sẽ làm hệ thống cơ co lên dẫn đến đau tăng. Đợi khi đỡ đau hơn rồi áp dụng các biện pháp bổ trợ là rất cần thiết.

vật lý trị liệu đau lưng

Việc phối hợp giữa phương pháp Đông và Tây y trong điều trị đau lưng


Y học cổ truyền góp phần đưa ra phương pháp điều trị bảo tồn tốt trong các dạng thoái hóa xương khớp trừ những trường hợp phải can thiệp phẫu thuật hay liệu pháp khác. Y học cổ truyền là phương pháp điều trị tương đối toàn diện.

Về bài thuốc y học cổ truyền có Độc hoạt tang ký sinh, hiện nay cải tiến hơn có bài Viêm xương khớp bách liên của công ty dược Thái Dương. Trên cơ sở bài Độc hoạt tang ký sinh, có tác dụng khu phong, tán hàn, trừ thấp, bổ can thận và thông hoạt kinh lạc. Khu phong là trị các chứng đau di truyền, tê bì, dị cảm, tán hàn (đuổi cảm). Trong trừ thấp, thấp làm người đau nhức, nặng nề, khó chịu, khó vận động. Bổ can thận, thận là chủ cốt, nếu bổ thận sẽ giúp cho các hệ xương khớp vững bền, kể cả răng; bổ can tức là bổ can huyết, các cụ có câu: Trị phong tiên trị huyết, huyết hành phong tất diệt.

viêm xương khớp bách liên chữa đau lưng

Ngoài ra trong bài thuốc còn có các thành phần làm lưu thông và hỗ trợ huyết mạch, tăng thích ứng dẫn truyền thần kinh gọi là lưu thông kinh mạch. Bài thuốc còn được gia vị thêm Cao quy bản giúp bổ âm, bổ huyết; còn có các khoáng vi lượng, đặc biệt là selen làm trẻ hóa hệ xương và hệ thần kinh. Bài thuốc không có yếu tố kích thích dạ dày, hệ thống tiêu hóa, có nguồn gốc từ tự nhiên nên việc dung nạp, tiêu hóa dễ hơn.

Đây là bài thuốc kinh điển dùng tốt cho lứa tuổi cao, ở tuổi trẻ dùng sớm có tác dụng phòng bệnh, tăng sức đề kháng, làm chậm quá trình lão hóa của cơ thể.

Biến chứng loét bàn chân do bệnh đái tháo đường

Các biến chứng chân do đái tháo đường như biến dạng bàn chân, loét bàn chân, hoại tử ngón chân là những nguyên nhân chủ yếu nhất trong nhóm các nguyên nhân không phải chấn thương gây cắt cụt ở các nước phát triển. Theo thống kê có 5-7% bệnh nhân đái tháo đường bị biến chứng loét bàn chân và nguy cơ cắt cụt chân ở bệnh nhân đái tháo đường cao gấp 15-46 lần so với người không bị bệnh.

biểu hiện chứng loét chân do bệnh đái tháo đường

Bên cạnh đó biến chứng loét bàn chân ở bệnh đái tháo đường còn do một nguyên nhân khác như béo phì làm tăng áp lực lên bàn chân, giảm thị lực làm bệnh nhân dễ gãy gây tổn thương bàn chân và khó phát triển, những biến đổi trên bàn chân, kiểm soát đường huyết kém hoặc bệnh nhân mắc kèm gây giảm protein nên vết thương khó lành, rối loạn mỡ máu gây xơ vữa các động mạch cấp máu cho chân. Đi giày tất không phù hợp sẽ gây tổn thương cho bàn chân. Cuối cùng, những người có tiền sử bị loét chân hoặc cắt cụt chân thì nguy cơ tiếp tục bị loét chân cũng sẽ tăng lên.

Tìm hiểu biến chứng bàn chân do bệnh đái tháo đường


Biến chứng loét bàn chân ở bệnh nhân đái tháo đường là một trong những biến chứng khá nguy hiểm. Nếu người bệnh không được chẩn đoán và điều trị sớm thì nguy cơ phải cắt cụt chi là điều khó tránh khỏi. Vậy làm cách nào để có thể đề phòng và hạn chế tối đa biến chứng này, chúng tôi có buổi trao đổi với Thạc sĩ – Bác sĩ Nguyễn Trần Kiên, Trưởng Khoa Chăm sóc bàn chân, Bệnh viện Nội tiết Trung Ương:

Vâng thưa bác sĩ, hiện nay tỷ lệ người bệnh bị đái tháo đường, bị biến chứng là chiếm bao nhiều phần trăm. Trong đó thì biến chứng bàn chân có tỷ lệ ra sao ạ?

Đối với bệnh đái tháo đường thì biến chứng vào nhiều cơ quan, trong đó có 2 biến chứng chính là biến chứng mạch máu lớn và biến chứng mạch máu nhỏ.

Biến chứng mạch máu lớn là bệnh nhân bị xơ vữa động mạch, có thể là nhồi máu cơ tìm, có thể tai biến mạch máu não, có thể có bệnh động mạch chi dưới làm tắc hẹp và gây ra loét bàn chân. Biến chứng mạch máu nhỏ có thể tổn thương các cơ quan đích như biến chứng về thận, bệnh cầu thận đái tháo đường, biến chứng về mắt, biến chứng về thần kinh ngoại vi. Bên cạnh đó, bệnh nhân có thể kèm theo bị biến chứng do bệnh đái tháo đường như nhiễm trùng, đặc biệt nhiễm trùng ngoài da, lao phổi, biến chứng vào răng, vào mắt.

Một trong những biến chứng nguy hiểm của bệnh đái tháo đường là biến chứng bàn chân. Khi mà bệnh nhân mất cảm giác có thể giẫm vào dị vật mà không biết. Do đó một số trường hợp bệnh nhân thấy bàn chân có nhiễm trùng, chảy mủ và thối thì lúc đó mới biết. Và đối với thần kinh vận động, khi tổn thương thần kinh vận động thì làm liệt các cơ ở phần bàn chân, do đó gây biến dạng bàn chân, làm tăng áp lực một cách bất thường từ đó làm tăng nguy cơ gây loét. Đối với thần kinh tự động thì làm giảm tiết mồ hôi bàn chân do đó da khô, nứt nẻ, do đó dễ bị loét và dễ bị vi khuẩn xâm nhập vào.

Vậy làm thế nào để nhận biết được những biểu hiện, triệu chứng của biến chứng loét bàn chân ở bệnh nhân đái tháo đường thưa bác sĩ?

Bao gồm có tổn thương thần kinh ngoại vi. Ví dụ như bệnh nhân giảm hoặc mất cảm giác, có các biến dạng bàn chân, ngón chân quặp, ngón chân hình vuốt thú.

Thứ hai bệnh nhân có thể xơ vữa động mạch, đặc biệt những bệnh nhân có bệnh động mạch chi dưới gây tắc hẹp.

Thứ 3 là những bệnh nhân đã có tiền sử loét hoặc cắt cụt trước đây.

Thứ 4 những bệnh nhân khi khám bàn chân thấy các biến dạng trên lòng bàn chân.

Một số trường hợp thị lực giảm ở nam giới cũng là nguyên nhân gây loét bàn chân cao.

Theo bác sĩ thì để phòng bệnh biến chứng do đái tháo đường thì những biện pháp chủ yếu mà người dân cần làm đó là gì và trong đó thì để chăm sóc tốt loét bàn chân ở những bệnh nhân biến chứng đái tháo đường thì chúng ta phải thực hiện những quy trình nào?

Đối với biến chứng bàn chân thì phải chữa từ khi chưa có loét, phải dự phòng rồi. Nhưng khi đã có loét rồi, nếu loét nhẹ thì phải tới ngay cơ sở y tế chứ không chữa tại nhà phòng trường hợp loét đang từ nhẹ chuyển sang nặng.

Còn về phía bệnh nhân để phòng ngừa các biến chứng loét bàn chân thì cần tuân thủ lời hướng dẫn của các bác sĩ. Trước tiên là về kiểm soát đường huyết, huyết áp, mỡ máu phải chặt chẽ. Bên cạnh đó có 10 lời khuyên dành cho bệnh nhân về chăm sóc bàn chân thì hàng ngày phải thực hiện các lời khuyên đó.

Nếu như trong trường hợp đã có loét chân rồi thì phải tới ngay cơ sở y tế gần nhất để các nhân viên y tế tư vấn, chăm sóc và tránh trường hợp tự chữa tại nhà vì loét từ nhẹ chuyển sang nặng rất nhanh chóng.

Bệnh vẩy nến, phân loại, triệu chứng và nguyên nhân

Bệnh vẩy nến chiếm 5% dân số Châu Âu, 2% dân số Châu Á và Châu Phi, xấp xỉ 10% tổng số các bệnh nhân đến khám ở các phòng khám Da liễu. Bệnh lành tính, thường không ảnh hưởng đến sức khỏe nhưng ảnh hưởng đến thẩm mỹ, tâm lý và những hệ lụy của nó. Nam gặp nhiều hơn nữ, người lớn nhiều hơn trẻ em. Bệnh phát thành từng đợt, có khi tăng giảm theo mùa.

Nội dung chính của bài viết:


Bệnh vẩy nến

Bệnh vẩy nến là gì?


Bệnh Vẩy nến là bệnh khá phổ biến sau bệnh eczema, do rối loạn biệt hóa lành tính của tế bào thượng bì, theo tài liệu nhiều tác giả nước ngoài trong nội trú chiếm 4-8% ngoại trú 2-7% so với tổng số bệnh ngoài da đến khám và điều trị. Bệnh ít gây ảnh hưởng đến sức khỏe chung nhưng là bệnh dai dẳng hay tái phát nên ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt, học tập, lao động và tâm trí người bệnh. Bệnh thường phát về mùa Đông, ở da đầu và mặt ngoài tứ chi, nặng thì có thể phát ra toàn than, có thể kèm theo sung đau các khớp chân. Bệnh Vẩy nến còn gọi là Ngân Tiêu Bệnh, Tùng Bì Tiễn, Bạch Thủy, Chủy Phong, Bạch Xác Sang, Tùng Hoa Tiễn. Từ Bạch Chủy đầu tiên xuất hiện trong sách Ngoại Khoa Đại Thành. Sách Phong Môn Toàn Thư Viết: “Vùng tổn thương lõm như đồng tiền lớn, bên trong có màu hồng bên ngoài màu trắng, châm kim vào không chảy ra máu, chảy ra nước màu trắng như màu bạc. Lúc đầu phát ra ở cơ thể rồi sau đó phát ở mặt”.

Các loại bệnh vảy nến


  • Dạng thường gặp là vảy nến thể mảng: những vùng da bệnh có màu đỏ đóng vẩy màu trắng bạc bên trên. 
  • Vảy nến giọt: thể hiện dưới dạng những sang thương hình bầu dục màu đỏ ở thân, chi và da đầu. 
  • Vảy nến mủ: bề mặt da xuất hiện những bóng nước có chứa mủ. 
  • Vảy nến đảo ngược: thể hiện dưới dạng những mảng đỏ, láng ở da của những nếp gấp như quanh cơ quan sinh dục, dưới vú, nách… 
  • Vảy nến đỏ da: là thể nặng, da bị đỏ tróc ra từng mảng thường ảnh hưởng tới một vùng lớn trên cơ thể. Bệnh nhân có thể tử vong do da mất chức năng bảo vệ dẫn đến hậu quả nặng nề là các rối loạn thân nhiệt và cân bằng nước – điện giải. 
  • Bệnh Vẩy nến ở da: Trên da có các mảng đỏ ranh giới rõ, phía trên có vẩy dầy màu trắng. Khi chạm vào vùng da bị bệnh thì thấy khô, cứng. Khó xác định hơn nếu thương tổn chỉ có ở đầu do tóc che khuất cho nên cần chú ý: nếu thấy ở đầu tự nhiên thấy gầu nhiều và dầy lên so với trước đây. 
  • Viêm khớp vảy nến: có thể viêm bất cứ khớp nào, thường là các khớp ngón tay, ngón chân nhưng có thể xảy ra ở khớp hông, gối, cột sống… 
  • Bệnh Vẩy nến ở móng: Móng dầy hoặc có nhiều lỗ nhỏ trên bề mặt móng. 
  • Bệnh Vẩy nến thể đỏ da toàn thân. 
  • Bệnh Vẩy nến Thể Phong Nhiệt: Những nốt chấm xuất hiện nhiều, liên tục, lâu ngày to dần, mầu trắng đục, ngứa nhiều, mọc ở tay chân hoặc ở đầu, mặt, râu, gây hoại tử da sau đó có chấm xuất huyết. Kèm ngứa, sốt, khát, họng khô, đau, lưỡi đỏ sậm, rêu lưỡi hơi vàng. 
  • Bệnh Vẩy nến Thể Phong Huyết Táo (gặp ở thể bệnh kéo dài): Nhiều nốt ban chẩn mới ít xuất hiện, những nốt cũ mầu hơi đỏ, ngứa, mặt da khô, lưỡi ít tân dịch, rêu lưỡi hơi vàng mà khô. 
  • Bệnh Vẩy nến Thể Phong Hàn: Nhiều vết chấm xuất hiện giống như đồng tiền hoặc từng mảng mầu hồng, trên mặt mụn có thể thối nát, phát bệnh quanh năm. Từ mùa đông đến mùa hè thường tự bớt hoặc giảm ẩn đi, lưỡi hồng nhạt, rêu lưỡi trắng nhạt. 
  • Bệnh Vẩy nến Thể Thấp Nhiệt: Nhiều vết chấm xuất hiện giống như nước trong lỗ rỉ ra, xuất hiện ở bên dưới bầu vú, vùng hội âm, khuỷ tay, hố mắt, vùng sinh dục, mầu da có mầu hồng xám, thường gom lại thành mảng lớn, vùng tổn thương chảy nước mầu trắng đục, hơi ngứa, miệng khô, không khát, cơ thể nóng, mệt mỏi, lưỡi đỏ sậm, rêu lưỡi vàng hoặc có ngấn bệu. 
  • Bệnh Vẩy nến Thể Huyết Nhiệt: Mới phát hoặc tái phát không lâu, vết sần nổi lên như dạng đồng tiền hoặc như bùn, thường nổi hạt nhỏ như ban chẩn, to nhỏ không đều, mầu hồng tươi, mọc nhiều ở tứ chi, có thể mọc ở vùng đầu và mặt trước, bề mặt của vết sần có mầu trắng đục, khô, vỡ nát có khi có rướm máu, kèm ngứa, tâm phiền, khát, táo bón, tiểu ít, nước tiểu vàng, lưỡi đỏ sậm, rêu lưỡi hơi vàng. 
  • Bệnh Vẩy nến Thể Huyết Ứ: Vết ban mầu đỏ tối hoặc tím, to nhỏ không đều, bề mặt hơi lõm, khô trắng đục, không bong da, có một ít vết ban nhỏ mới xuất hiện kèm theo ngứa hoặc không ngứa, miệng khô, không muốn uống, lưỡi đỏ tối hoặc có điểm ứ huyết, rêu lưỡi trắng nhạt hoặc hơi vàng. 
  • Bệnh Vẩy nến Thể Huyết Hư: Cơ thể vốn suy yếu, bệnh kéo dài lâu ngày, da chuyển sang trắng bệch, nhiều vết ban có dạng giống như từng mảng hoặc phát ra toàn thân, mầu hồng nhạt ướt hoặc nhạt tối, bong da có những vết ban mới xuất hiện, ngứa, nặng hoặc nhẹ mầu da cũng không thay đổi, kèm chóng mặt, ít ngủ, ăn uống kém, lưỡi hồng nhạt, rêu lưỡi ít, ít tân dịch. 
  • Bệnh Vẩy nến Mạch Xung Nhâm Không Điều Hoà: Da nổi nhiều nốt sẩn đặc biệt vào thời kỳ kinh nguyệt, có thai, sinh đẻ, đa số trước khi có kinh, đang có thai và trước khi sinh thì phát nặng hơn, có một ít sau khi có kinh và sau khi sinh mới phát. Toàn thân nổi lên những vết ban mọc thành đám, mầu đỏ tươi sau đó trở thành trắng đục, lúc mới phát có những vết xuất huyết. Toàn thân hơi ngứa,tâm phiền, miệng khô, đầu váng, lưng đau, lưỡi đỏ sẫm hoặc đỏ nhạt, rêu lưỡi trắng. 
  • Bệnh Vẩy nến Nhiệt Độc Thương Doanh: Phát bệnh nhanh, toàn thân đều nổi ban đỏ, đỏ tím, đỏ sẫm, nóng, ấn vào thì nhạt mầu, sưng phù, bong da, toàn thân sốt cao, sợ lạnh, tâm phiền, khát, tinh thần uể oải, tay chân không có sức, lưỡi đỏ sẫm, ít tân dịch.

Bệnh này vào mùa khô thì phát triển mạnh hơn, gây đau đớn cho bệnh nhân khi vùng da nhiễm bệnh bị va chạm hoặc có hiện tượng chảy máu chỗ da bị nứt. (đôi khi nhầm với bị nứt nẻ da, cũng hay gặp ở mùa khô).

Cần phân biệt với:

  • Bạch Tiêu Phong (Can Tính Bì Chỉ Dật): Xuất hiện nhiều ở vùng đầu, thường có mầu trắng tro hoặc đục như mỡ, lâu ngày gây nên hói (rụng) tóc.
  • Phong Nhiệt Sang (Mai Côi Đường Chẩn): nốt ban chủ yếu ở vùng khô, có hình tròn, hơi trắng bạc, có thể tự khỏi.
  • Hồ Niệu Thích (Mao Phát Hồng Đường Chẩn): vết ban phía trên có đầu nhỏ mầu trắng đục, không làm trắng da và không rướm máu.
  • Vảy nến thể chấm giọt: cần phân biệt với sẩn giang mai II (cộm, màu đỏ sẫm, có viền Biệt), Á vảy nến thể giọt (vảy màu nâu, cậy bong ra thành một lớp như gắn xi).
  • Ở da đầu, da mặt trẻ em cần phân biệt với á sừng liên cầu.
  • Ở các móng cần phân biệt với nấm móng.
  • Ở nếp kẽ phân biệt với hăm kẽ, loét kẽ.

Triệu chứng của bệnh vẩy nến


Bệnh vảy nến thường có các biểu hiện dưới đây:

  • Thương tổn da: bệnh vảy nến biểu hiện trên da rõ nết nhất bằng các dát đỏ có vẩy trắng phủ trên bề mặt, vẩy dày, có nhiều lớp xếp chồng lên nhau rất dễ bong và giống như giọt nến. Tuỳ theo tình trạng bệnh nặng hay nhẹ mà kích thước thương tổn to nhỏ khác nhau với đường kính từ 1- 20 cm hoặc lớn hơn. 
  • Thương tổn khớp: Tỷ lệ khớp bị thương tổn trong vẩy nến tùy từng thể. Thể nhẹ, thương tổn da khu trú, chỉ có khoảng 2% bệnh nhân có biểu hiện khớp. Trong khi đó ở thể nặng, dai dẳng có đến 20% bệnh nhân có thương tổn khớp. Biểu hiện hay gặp nhất là viêm khớp mạn tính, biến dạng khớp, cứng khớp, lệch khớp, bệnh nhân cử động đi lại rất khó khăn 
  • Thương tổn móng: Tổn thương trên móng xảy ra ở khoảng 30% - 40% bệnh nhân vẩy nến. Các móng ngả màu vàng đục,có chấm lỗ rỗ hoặc hình gợn sóng trên bề mặt. Móng rất mủn, dễ gãy, nhiều người bệnh còn mất cả móng. 

Nguyên Nhân gây Bệnh Vẩy nến:


Cho đến nay vẫn chưa khẳng định rõ ràng nguyên nhân gây ra Bệnh Vẩy nến. Nhưng người ta biết chắc chắn các yếu tố sau đây làm nên cơ chế sinh bệnh:

  • Do ngoại tà khách ở bì phụ: Lục dâm (phong, hàn, nhiệt, thấp, thử, táo) xâm nhập vào phần cơ, phu làm cho khí của Phế vệ không được tuyên thông, làm cho kinh lạc bị ngăn trở, ứ đọng lại ở da (phu tấu), không nuôi dưỡng được da gây nên. Sách 
  • Chư Bệnh Nguyên Hậu Luận Viết: “Tấu lý hư yếu, phong và khí xâm nhập vào, huyết ứ lại không nuôi dưỡng được cơ nhục gây nên bệnh”. 
  • Di truyền: Khoảng 30% bệnh nhân có yếu tố gia đình (cha, mẹ, anh chị em ruột hoặc họ hàng trực hệ); 70% các cặp song sinh cùng mắc. Các nghiên cứu chỉ ra các kháng nguyên HLAW6, B13, B17, DR7 liên quan đến Vẩy nến da và khớp. 
  • Do Tình Chí Nội Thương: Thất tình bị ức chế, uất kết lâu ngày hóa thành hỏa, hỏa nhiệt hóa thành độc tả vào phần doanh huyết, bên ngoài ảnh hưởng đến phụ tấu (da), lỗ chân long bị bít lại không thông, khí trệ huyết ứ gây nên bệnh vẩy nến. 
  • Nhiễm khuẩn: vẩy nến ở trẻ em, vẩy nến thể giọt người ta phân lập được liên cầu khuẩn ở tổn thương và điều trị kháng sinh thì bệnh thuyên giảm. 
  • Do Trúng Độc: Ăn nhiều thức ăn cay, nóng, tanh, tươi sống, trứng …khiến cho phong bị động, Tỳ Vị không điều hoà, khí trệ không thông, thấp nhiều cùng kết lại, thấm vào tấu lý, gặp phải hàn thấp, khí huyết tương bác nhau gây nên bệnh. 
  • Stress: Làm bệnh tái phát hoặc đột ngột nặng lên. 
  • Thuốc: Bệnh vẩy nến xuất hiện sau khi sử dụng một số thuốc: chẹn beta kéo dài, lithium, đặc biệt sau khi sử dụng corticoid. 
  • Hiện thượng Kobner: thương tổn mọc lên sau các kích thích cơ học (gãi, chà xát) hoặc các kích thích lí hóa (bệnh nặng nhẹ theo mùa). 
  • Do Mạch Xung và Nhâm Không Điều Hoà: Mạch Xung và Nhâm liên hệ với tạng Can và Thận, vì vậy kinh nguyệt và sinh dục là yếu tố làm cho mạch Xung và Nhâm không điều hoà, khiến cho âm dương của Can Thận thiên lệch gây nên, biểu hiện bằng âm hư nội nhiệt hoặc do dương hư ngoại hàn, lâu ngày làm cho âm dương đều hư hoặc chân hàn giả nhiệt hoặc chân nhiệt giả hàn.

Tóm lại, Bệnh Vẩy nến chủ yếu do rối loạn ở phần huyết: huyết nhiệt, huyết táo, huyết ứ. Bệnh lâu ngày làm cho tạng phủ bị ảnh hưởng theo, trong đó chú ý đến Can Thận.

Những điều cần tránh với Bệnh Vẩy nến


Nhìn vào 5 yếu tố làm nên cơ chế sinh bệnh mà ta phải:

  1. Tránh căng thẳng (stress)
  2. Tránh kì cọ và bóc da (hiện tượng Kobner)
  3. Tránh để vùng da bị bệnh tiếp xúc với các chất có tính bazơ cao như xạt phòng, vôi,... vì khi đó vùng da nhiễm bệnh sẽ mở rộng ra.
  4. Cẩn thẩn khi dùng thuốc nếu mắc thêm các bệnh về tim mạch.
  5. Tránh nhiễm khuẩn: Đặc biệt là nhiễm khuẩn tai, mũi, họng.
  6. Tránh rượu: Vì rượu làm bệnh nặng lên và tương kị với các thuốc điều trị.
  7. Nên lạc quan với bệnh tật: do bệnh lành tính và phổ biến, khoa học tiến bộ không ngừng trong việc tìm ra nguyên nhân đích thực của bệnh và hàng năm đều ra đời các thuốc và phương pháp chữa bệnh mới có hiệu quả hơn. Hãy tin tưởng rằng trong tương lai không xa bệnh vẩy nến sẽ có các đột phá mới.
  8. Tránh gây trầy xước da ở vùng này, sẽ gây nhiễm trùng, vết thương trở lên đau đớn. Cẩn thận khi sử dụng các loại thuốc bôi dưỡng da, cần phải xem kĩ các loại thuốc bôi dưỡng da có ảnh hưởng đến vùng da bị bệnh hay không.

Cách chữa bệnh vảy nến


Chữa vảy nến theo Tây y


Điều trị tại chỗ: Dùng các loại kem, mỡ, dung dịch với mục đích bong vẩy, tiêu sừng, hạn chế hình thành nhanh chóng vấy da như:

  • Mỡ Salycile 5%, 10%.
  • Vitamin D3.
  • Goudron.

Lưu ý:

  • Nếu gặp ở bàn chân thì nên đi giày, tất khi ra ngoài đường, điều này giúp da chân không cảm thấy khô, đồng thời ngăn ngừa nhiễm khuẩn ở vùng da có vết nứt.
  • Hạn chế tiếp xúc với xà phòng.
  • Đến phòng khám chuyên khoa da liễu.

Điều trị toàn thân:

  • Acitretine (Soriatane).
  • Cyclosporin (Neoral).
  • Methotrexate.
  • Quang trị liệu: UVB phổ hẹp (UVBTL01)
  • Quang hóa trị liệu: PUVA.

Chữa vảy nến theo Đông y


Bài thuốc 1: Dùng cho bệnh vẩy nến kéo dài:

Ké, hà thủ ô, huyền sâm, ngân hoa, hỏa ma nhân, sinh địa, tất cả đều 12g. Sắc uống ngày 1 lần. 

Thuốc rửa ngoài thì dùng: Hỏa tiêu, phác tiêu, khô phàn, dã cúc hoa. Nấu nước ngày rửa 1 lần.

Bài thuốc 2: Thuốc ngâm rửa cho trường hợp bị toàn thân trên diện rộng:

Khô phàn 120g, cúc hoa dại 240g, xuyên tiêu 120g, mang tiêu 500g, sắc lấy nước tắm hoặc ngâm mỗi ngày, hoặc cách 1 ngày ngâm 1 lần.

Bài thuốc 3: Bao gồm những loại thuốc sau:

Kinh giới, rau má, bồ công anh, ké đầu ngựa, cây trinh nữ, bạc sau, xích đồng, thổ phục linh, vỏ gạo, hạ khô thảo, kim ngân, khổ sâm, xác ve sầu, đơn đỏ... mỗi thứ 12g, sắc uống trong 1-2 ngày, mỗi ngày 2 lần!

Cách dùng: Đây là một thang thuốc uống trong 1 - 2 ngày, mỗi thứ 10 - 12g. Sau khi uống thuốc xong thì lấy bã đun them 1 ít nước và tắm, ngâm để cho lớp da chết bong ra.

Nguồn: www.phucthanhduong.com

Bệnh thoát vị đĩa đệm, triệu chứng và nguyên nhân

Thoát vị đĩa đệm ngày càng phổ biến ở mọi lứa tuổi, nhất là ở dân văn phòng chiếm đa số. Chính thói quen lười vận động và làm việc liên tục sai tư thế khi bệnh thoát vị đĩa đệm ngày càng nặng thêm. Tham khảo bài viết để hiểu hơn về định nghĩa, triệu chứng và nguyên nhân dẫn tới căn bệnh này.

Nội dung chính của bài viết:

Bệnh thoát vị đĩa đệm

Bệnh thoát vị đĩa đệm là gì?


Thoát vị đĩa đệm là tình trạng nhân nhầy đĩa đệm cột sống thoát ra khỏi vị trí bình thường trong vòng sợi chèn ép vào ống sống hay các rễ thần kinh sống và có sự đứt rách vòng sợi gây nên hội chứng thắt lưng hông điển hình.

Cách phân loại thoát vị đĩa đệm


Thoát vị đĩa đệm đốt ống cổ liên quan tới rễ thần kinh và tủy sống


  • Thoát vị đĩa đệm đốt sống cổ trung tâm chủ yếu chèn ép tủy sống gây ra bệnh lý tủy.
  • Thoát vị đĩa đệm đốt sống cổ cạnh trung tâm: chèn ép cả tủy sống và rễ thần kinh gây ra bệnh lý rễ – tủy.
  • Thoát vị đĩa đệm đốt sống cổ bên (thoát vị lỗ gian đốt sống): chủ yếu chèn ép vào rễ thần kinh gây ra bệnh lý rễ.

Thoát vị đĩa đệm đốt sống cổ phân loại theo giải phẫu bệnh


  • Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ mềm: Là thoát vị nhân nhầy thường gặp ở người tương đối trẻ, không có hoặc có ít biểu hiện thoái hóa đi kèm. Loại thoát vị này thường diễn ra cấp tính, có thể sau một chấn thương.
  • Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ cứng: Thực ra là các gai xương do thoái hóa, xuất phát từ thân đốt sống hay mỏm móc, thường xảy ra ở người cao tuổi hơn và diễn biến kéo dài hơn.

Thoát vị đĩa đệm đốt sống cổ phân loại theo liên quan với dây chằng dọc sau


  • Loại 1: Đĩa đệm ở đốt sống cổ bị phồng lên, vòng sợi chưa bị rách hết, nhân nhầy vẫn còn nằm trong vòng sợi nhưng lệch vị trí.
  • Loại 2: Lồi đĩa đệm cột sống cổ: Khối thoát vị đã xé rách vòng sợi, nằm ở trước dây chằng dọc sau.
  • Loại 3: Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ thực sự: khối thoát vị đã chui qua dây chằng dọc sau nhưng vẫn còn dính liền với nhân nhầy nằm trước dây chằng dọc sau.
  • Loại 4: Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ có mảnh rời: có một phần khối thoát vị tách rời ra khỏi đĩa đệm, nằm trước dây chằng dọc sau, có thể di chuyển đến mặt sau thân đốt sống. Mảnh rơi này thường nằm ngoài màng cứng, nhưng đôi khi lại xuyên qua màng cứng chèn ép tủy.

Triệu chứng của bệnh thoát vị đĩa đệm


Sau khi bị trượt ngã đập mông xuống đất, sau một khuân vác nặng, sau một cúi gập lưng đột ngột, người bệnh thường triệu chứng sau:

1. Triệu chứng đau


Đau là dấu hiệu lúc nào cũng có và xuất hiện đầu tiên nhất, đau có thể từ cột sống cổ xuống hai tay hoặc đau từ cột sống thắt lưng xuống hai chi dưới, đau giống như kéo căng một sợi dây, đau liên tục khi đứng khi đi có thể giảm khi nằm nghỉ nhưng không bớt hẳn, đau không giảm khi uống thuốc.

2. Triệu chứng tê bì


Tê tùy vị trí rễ thần kinh bị chèn ép, như tê mặt ngoài bàn chân và gót chân, mặt ngoài bắp chân hoặc mu bàn chân, mặt trước xương chày, mặt trước đùi. Cảm giác tê bì có thể có hoặc không thường xuất hiện sau đau.

3. Triệu chứng teo cơ, yếu liệt


Đây là triệu chứng thường xuất hiện muộn nhất sau một thời gian khá dài bạn có thể nhận thấy một tay, một chân hay hai tay hai chân teo nhỏ làm đi lại khó khăn, lâu hơn nữa có thể bạn sẽ không đi lại được. Nếu tất cả những triệu chứng trên rõ ràng thì có thể không cần kiểm tra thêm trong thời gian ban đầu. Đôi khi có thể làm thêm một số cận lâm sàng như MRI hoặc CT được dùng để củng cố chẩn đoán.

4. Các triệu chứng của một đĩa đệm thoát vị


Có thể có một đĩa đệm thoát vị mà không biết – hoặc đĩa đệm thoát vị phồng đôi khi hiển thị trên hình ảnh sống của những người không có triệu chứng của một vấn đề đĩa. Nhưng một số đĩa đệm thoát vị có thể đau đớn. Các dấu hiệu và triệu chứng thông thường nhất của một đĩa đệm thoát vị là:
  • Đau thần kinh tọa, đôi khi có cảm giác kiến bò và tê, bắt đầu vào mông kéo dài xuống phía sau hoặc bên cạnh một chân.
  • Đau, tê hay yếu ở lưng dưới và một chân, hoặc ở cổ, ngực, vai hoặc cánh tay.
  • Đau lưng hay đau chân nặng hơn khi ngồi, ho hoặc hắt hơi

Nguyên nhân gây thoát vị đĩa đệm


  • Những nguyên nhân gây nên thoát vị đĩa đệm cột sống.
  • Nguyên nhân đầu tiên gây thoát vị đĩa đệm là các chấn thương cột sống do tai nạn giao thông hoặc tai nạn lao động.
  • Nhiều thói quen sinh hoạt lao động hàng ngày cũng ảnh hưởng xấu tới xương khớp như tư thế ngồi làm việc không đúng cách gây cong vẹo cột sống, tập thể dục không đúng cách gây thoái hoá khớp, trật khớp.
  • Các bệnh lý cột sống bẩm sinh hay mắc phải như gai đôi cột sống, gù vẹo, thoái hóa cột sống cũng là các yếu tố thuận lợi gây bệnh.
  • Những người ở độ tuổi từ 30 đến 50 là có nguy cơ bị thoát vị cao nhất do những thành phần nước và đàn hồi bên trong nhân tủy sẽ giảm đi theo tuổi.
  • Bệnh thường gặp với những người trên 30 tuổi, đĩa đệm thường không còn mềm mại, nhân nhày có thể bị khô, vòng sụn bên ngoài xơ hóa, rạn nứt và có thể rách. Trên cơ sở đó nếu có một lực tác động mạnh vào cột sống (chấn thương, gắng sức…), nhân nhày có thể qua chỗ rách của đĩa đệm thoát vị ra ngoài chui vào ống sống, chèn ép rễ thần kinh gây đau cột sống.
  • Thoái hóa đĩa đệm cũng có thể do nguyên nhân di truyền. Nếu bố mẹ có đĩa đệm yếu do bất thường về cấu trúc thì con cái cũng dễ bị thoát vị đĩa đệm.

Ảnh hưởng của thoát vị đĩa đệm


  • Thoát vị đĩa đệm có thể để lại những hậu quả và những biến chứng nguy hiểm cho người bệnh.
  • Bệnh nhân có thể bị tàn phế suốt đời do bị liệt trong trường hợp đĩa đệm thoát vị chèn ép tuỷ cổ.
  • Khi bị chèn ép các dây thần kinh vùng thắt lưng cùng, bệnh nhân có thể bị chứng đại tiểu tiện không tự chủ do rối loạn cơ tròn.
  • Ngoài ra bệnh nhân bị teo cơ các chi nhanh chóng, khiến sinh hoạt bị ảnh hưởng nghiêm trọng, thậm chí mất khả năng lao động.
  • Lao động và làm việc khó khăn ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống của người bệnh, chưa kể những tốn kém do chi phí điều trị.
  • Thoát vị đĩa đệm ảnh hưởng đến dây thần kinh. Đau rễ thần kinh phản ánh một quá trình tổn thương kích thích rễ thần kinh do chèn ép cơ học, xuất hiện sau giai đoạn đau thắt lưng cục bộ, đau tăng lên khi đi lại, đứng lâu, ngồi lâu. Đau dội mạnh lên khi ho, hắt hơi, rặn đại tiện.
  • Rối loạn cảm giác thường gặp là giảm cảm giác nông (nóng, lạnh, xúc giác) ở những khu vực khoang da tương ứng với rễ thần kinh bị tổn thương. Đây là biểu hiện mức độ tổn thương sâu sắc của rễ thần kinh.
  • Hội chứng đau khập khễnh cách hồi: Là một dạng đau rễ thần kinh ngắt quảng, nó xuất hiện khi đi được một đoạn làm bệnh nhân phải dừng lại để nghỉ. Khi đi tiếp một đoạn nữa, đau lại xuất hiện, buộc bệnh nhân phải nằm nghỉ.
  • Rối loạn vận động: bại và liệt cơ ở hai chân do rễ thần kinh chi phối bao gồm rối loạn cơ thắt: trong tổn thương các rễ vùng xương cùng có biểu hiện lúc đầu bí tiểu sau đái dầm dề, luôn luôn có nước tiểu chảy rỉ ra một cách thụ động do liệt cơ thắt kiểu ngoại vi không giữ được nước tiểu.

Trên đây là những thông tin cơ bản nhất, tất tần tật vui long truy cập chuyên mục bệnh thoát vị đĩa đệm để biết thêm.

Bệnh trĩ, tìm hiểu về bệnh trĩ tái phát!

Nếu bạn thường xuyên có những triệu chứng như táo bón, chảy máu khi đi đại tiện, đau rát và ngứa vùng hậu môn thì có thể bạn đã mắc hoặc có nguy cơ mắc bệnh trĩ. Bệnh trĩ được hình thành do sự căng giãn quá mức tại các tĩnh mạch ở trực tràng, hậu môn gây viêm sưng hoặc xuất huyết. Nhiều người không biết rằng hậu quả nghiêm trọng đang âm thầm đến với họ khi búi trĩ bên trong đang bắt đầu lớn dần lên. Khi búi trĩ sa ra ngoài thường xuyên mà không tự co vào được thì rất khó điều trị nội khoa, mà phải chỉ định phẫu thuật rất đau đớn.

Nội dung bài viết:

Các triệu chứng bệnh trĩ có thể xuất hiện thường xuyên hoặc ngắt quãng những đám rối tĩnh mạch trĩ vẫn có thể âm thầm căng giãn trong ống hậu môn. Bệnh nhân cũng như thầy thuốc thường không khẳng định được thời gian bắt đầu phát bệnh.

Bệnh trĩ

Bệnh trĩ là một bệnh phổ biến cả ở nam và nữ, đứng hàng đầu trong các bệnh lý vùng hậu môn. Bệnh trĩ không gây nguy hiểm, nhưng gây đau rát, ngứa, chảy máu, ướt át vùng hậu môn và cảm giác rất khó chịu cho người bệnh. Tuy là một bệnh lành tính nhưng gây nhiều khó khăn vì bệnh nhân mắc bệnh trĩ thường qua những triệu chứng nhẹ và tâm lý e ngại khi đi khám vùng kín mà chỉ đến khi triệu chứng đó càng ngày càng nặng gây khó chịu ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt hàng ngày thì người bệnh mới đi khám.

Theo bác sĩ chuyên khoa 1 Hoàng Chính, Bệnh viện Đa khoa Trí Đức: “Trong tổng số bệnh nhân đến khám về đường tiêu hóa có tới 10% mắc bệnh trĩ. Sauk hi thực hiện thăm khám, các bác sĩ tư vấn cho bệnh nhân là cần phải thực hiện biện pháp soi trực tràng hoặc soi đại tràng để phát hiện xem các búi trĩ ở điểm nào hoặc độ mấy rồi. Từ đó có những biện pháp can thiệp, thông thường thì điều trị nội khoa, cuối từng đợt nội khoa kết hợp cả thực phẩm chức năng.”

Bệnh trĩ hình thành như thế nào?


Bệnh lý trĩ là bệnh lý chủ yếu ở vùng hậu môn trực tràng. Ta thấy ở hậu môn trực tràng có một rãnh gọi là rãnh lược, cách lỗ hậu môn bên ngoài khoảng 1.5cm. Ở kỳ sinh lý bình thường, dưới niêm mạc hậu môn có các búi tĩnh mạch (tĩnh mạch trĩ trong và tĩnh mạch trĩ ngoài). Bình thường thì không có vấn đề, nhưng do những nguyên nhân nào đó thì búi tĩnh mạch trĩ trong nằm trên đường lược giãn ra, rồi sa xuống hơn khối lượng bình thường. Lúc ấy người ta gọi là trĩ nội. Còn khi búi tĩnh mạch ở ngoài và dưới đường lược giãn ra thì người ta gọi là trĩ ngoại.

Tóm lại bệnh trĩ chia thành hai loại chính bệnh trĩ nội và bệnh trĩ ngoại. Trong trĩ nội còn chia thành 4 độ:


  • Độ 1: Chỉ phình ra, triệu chứng chủ yếu là khi có tác động cơ học (ví dụ như đầu phân đi ra xước vào) gây chảy máu.
  • Độ 2: Khi đi ngoài nó sa xuống, đi ngoài xong nó tự co lên được.
  • Độ 3: Khi đi ngoài nó sa xuống nhưng không tự co lên được. Ta phải lấy tay đẩy lên thì mới co lên được.
  • Độ 4: Sa ra thường xuyên, lấy tay đẩy vào, vào rồi nhưng lại xuống.

Ngoài ra, còn một loại nữa là trĩ hỗn hợp bao gồm cả trĩ nộingoại.

Tính phổ biến của bệnh trĩ


Trong thực tế hiện nay có khoảng 30-50% dân số Việt Nam mắc căn bệnh này, tuy nhiên trong một số tài liệu con số đó lên tận 65%. Bệnh trĩ khá phổ biến, gặp ở tất cả các lứa tuổi, nhiều ở lứa tuổi hay làm việc với tư thế đứng, ngồi lâu và mang vác nặng. Ví dụ: Cảnh sát, thợ may, lái xe chuyên nghiệp, nhân viên văn phòng,…

Chữa bệnh trĩ

Nguyên nhân gây ra bệnh trĩ


Do đặc thù công việc của từng đối tượng ta chia thành những nguyên nhân bệnh trĩ sau:

  • Chế độ sinh hoạt không điều độ, thường xuyên phải ngồi một chỗ và ít vận động. Vì vậy những người phải ngồi làm việc nhiều nên nghỉ giải lao sau mỗi lần 50 phút làm việc.
  • Làm dụng các chất kích thích như rượu, bia, ớt, hạt tiêu,… dùng quá mức. Để táo bón lâu ngày.
  • Do bị chèn ép, những bệnh lý về lâm sàng, các bệnh nội khoa khác chèn ép lên vùng tầng sinh môn (trong ổ bụng) gây nên những áp lực lớn.
  • Do cơ vùng hậu môn bị nhão, nhất là ở người già khiến hình thành các búi trĩ.
  • Do sinh nở nhiều lần gây áp lực làm tăng búi trĩ.

Lời khuyên cho người đang mắc bệnh trĩ


Ở Bệnh viện Đa khoa Trí Đức, một ngày có 15 người đến khám trĩ. Các bác sĩ đặt vấn đề, các búi trĩ cần phải soi trực tràng thì mới phát hiện ra bệnh trĩ gì, là trĩ nội hay ngoại, độ mấy,… Những người nam giới thì đơn giản, nhưng ở nữ giới đặc biệt người trẻ thì lại vô cùng khó khăn. Thuyết phục được họ cho soi trực tràng rất khó khăn, họ thường giấu bệnh và không muốn cho làm những việc đó.

Đấy là một suy nghĩ sai lầm!

Nếu như bạn đã có những triệu chứng như ở trên: Đi ngoài ra máu, có vật lòi ra ở hậu môn, ngứa rát, đi ngoài thường xuyên bị táo bón,… thì bạn cần phải được thăm khám để làm các xét nghiệm. Khi lên đến độ 3, độ 4 rồi thì bắt buộc can thiệp phẫu thuật, tuy nhiên việc phẫu thuật vùng tầng sinh môn (hậu môn trực tràng) đấy thì vô cùng phức tạp. Vì đấy là vùng mạch máu rất nhiều, rất nhiều vi khuẩn, tạp khuẩn ở đấy, việc mổ rất khó khăn, nếu không cẩn thận dễ bị nhiễm trùng. Vì vậy chúng ta phải có những suy nhĩ đúng đắn để điều trị bệnh trĩ kịp thời. Vì vậy bạn đừng giấu bệnh, đến đó các bác sĩ sẽ tư vấn và điều trị bằng các loại thuốc để ổn định được bệnh trĩ.

Bệnh trĩ tái phát do đâu?


  • Do quá lạm dụng ăn uống, có những người rất thích ăn cay gây ảnh hưởng đến vùng trĩ.
  • Dùng thực phẩm ăn nhanh chứa nhiều đường, dầu tạo thành những chất khó tiêu hóa. Ít vận động.
  • Viêm nhiễm vùng hậu môn, áp xe quanh hậu môn, những đường dò là những điều kiện khiến bệnh trĩ tái phát.
  • Ăn quá no, đi đại tiện quá lâu, đọc báo, hút thuốc trong toilet khiến áp lực lên ổ bụng tăng.
  • Các bệnh lý về gan, thận, đại trực tràng, các khối u, u tử cung - buồng trứng, các bệnh lý trong ổ bụng ảnh hưởng đến tuần hoàn tĩnh mạch trĩ.
Có những người bị bệnh trĩ ở điểm 1 giờ chữa xong, do chế độ ăn uống không tốt nó lại nhảy lên 3 giờ - 4 giờ xảy ra thường xuyên.

Hiện nay có xu hướng sử dụng thực phẩm chức năng có nguồn gốc từ thiên nhiên điều trị bệnh trĩ mang lại hiệu quả cao trong đó có sản phẩm Motaphan:


Motaphan là sản phẩm được cấu trúc bởi các thảo dược như vitin (hoa hòe), bạch quả, diosmin (dịch chiết từ các cây họ cam quýt), cao hạt giải ngựa, việt quất, vitamin C, K. Vitin là hợp chất angteosedang chống lại gốc tự do, tăng cường vững thành mạch, làm khỏe thành mạch, không bị giãn ra. Dấp cá có tác dụng kháng khuẩn, kháng viêm, cầm máu, chứa nhiều chất xơ vị mát. Cao hạt giải ngựa giúp tăng cường cơ lực thành mạch máu, giảm đau giúp người bệnh trĩ giảm được đau đớn (như kim châm vào vùng hậu môn trực tràng). Diosmin chứa chất xơ vừa tan và không tan trong nước giúp phân mềm, giải độc, đặc biệt các độc tố trong đường ruột. Vitamin C làm thành mạch vừng, vitamin K cầm máu.

Motaphan

Tất cả lứa tuổi có nguy cơ mắc hoặc đã bị bệnh trĩ đều có thể sử dụng được. Motaphan dùng để phòng bệnh trĩ rất tốt, nhất là cho các anh công an, dân văn phòng,… Đặc biệt rất phù hợp với người tuổi trung niên trở lên và người già. Vì người già tất cả các cơ quan, bộ phận đều bị lão hóa, kể cả hệ thống tĩnh mạch trĩ dẫn đến sức bền kém, ít đi lại, uống nước không đủ làm tăng khả năng bị táo bón nên dùng Motaphan rất phù hợp.

Tham khảo cách chữa từ Kim tiền thảo

Chế độ dinh dưỡng và sinh hoạt cho người bệnh trĩ


  • Từ bỏ việc ăn cay nóng, uống rượu bia sẽ giảm 99% bệnh trĩ tái phát.
  • Nằm hoặc ngồi ít đi, năng vận động, uống đủ nước (2.5 lít/ngày đêm).

Đối với những người chưa mắc bệnh trĩ:


  • Cần phòng ngừa không để bị táo bón (vì táo bón nhiều là vấn để chủ yếu sinh ra bệnh trĩ).
  • Mỗi ngày ăn ít nhất 300g rau (1/3kg). Bạn đã ăn đủ chưa?
  • Phải uống đủ nước, nhất là ở người già phải chú trọng.
  • Tránh các bệnh lý về lị, tiêu chảy,….
Chúc bạn sức khỏe tốt!
loading...